64 Hồ Xuân Hương, Nha Trang

088.91.88.727

Nuôi con bằng sữa mẹ và dinh dưỡng trẻ em

NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ VÀ DINH DƯỠNG TRẺ EM

Ths.Bs Phan Lộc Mai

  1. GIÁ TRỊ CỦA SỮA MẸ VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

– Sữa mẹ bài tiết trong tuần đầu được gọi là sữa non, sữa non có màu vàng nhạt, nhiều năng lượng, chất đạm, nhiều vitamin A, kháng thể và tế bào bạch cầu, giúp tăng cường miễn dịch cho trẻ. Sữa non là thức ăn tốt nhất cho trẻ trong tuần đầu.

Một cữ bú (bữa bú) có 2 giai đoạn tiết sữa

+ Sữa đầu: là sữa bài tiết ở đầu cữ, chủ yếu cung cấp đạm

+ Sữa cuối: là sữa bài tiết cuối cữ, chủ yếu cung cấp chất béo

1.1. Sữa mẹ có đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ trong 6 tháng đầu:

– 1 lít sữa mẹ có khoảng 600 – 700 calo và còn tùy thuộc vào chế độ ăn của mẹ.

– Tỷ lệ đạm, mỡ, đường cân đối, dễ tiêu hoá và dễ hấp thu, do vậy trẻ bú sữa mẹ ít bị tiêu chảy và suy dinh dưỡng.

– Muối khoáng có tỷ lệ thích hợp, thoả mãn nhu cầu  dinh dưỡng của trẻ.

– Tỷ lệ can xi/ phospho thích hợp, lượng sắt cao hơn sữa bò do vậy trẻ bú sữa mẹ ít mắc bệnh còi xương, thiếu máu dinh dưỡng.

– Sữa mẹ có nhiều vitamin A: phòng được bệnh khô mắt.

1.2. Sữa mẹ có tính kháng khuẩn, chống dị ứng

– Có kháng thể của mẹ, do vậy trẻ ít bị nhiễm khuẩn, ít mắc các bệnh dị ứng

– Trẻ bú mẹ trực tiếp nên đảm bảo vô khuẩn, vệ sinh.

1.3.Thuận tiện và đỡ tốn kém

– Không tốn tiền mua sữa và dụng cụ pha chế.

– Không mất công chế biến.

1.4. Tăng cường mối quan hệ tình cảm mẹ con

– Người mẹ khi cho con bú thường âu yếm, nâng niu con, do vậy trẻ cảm thấy vui vẻ, bình yên, thoải mái, ôm ấp 2 bầu vú mẹ. Tình cảm mẹ con được hình thành và gắn bó.

– Trẻ phát triển khoẻ mạnh.

– Mẹ cảm thấy hạnh phúc.

1.5. Có lợi cho sức khỏe của mẹ

– Mẹ cho con bú sẽ hạn chế được quá trình rụng trứng, tránh mang thai sớm.

– Cho con bú thường xuyên hạn chế viêm tắc, áp xe vú, ung thư vú.

– Cho con bú sớm giúp co hồi tử cung tốt và cầm máu sau đẻ.

  1. BẢO VỆ NGUỒN SỮA MẸ

2.1. Đảm bảo ngậm bắt vú tốt

– Cằm trẻ chạm vào vú mẹ.

– Miệng trẻ mở rộng.

– Môi dưới hướng ra ngoài.

– Quầng vú ở phía trên miệng trẻ hở nhiều hơn phía dưới.

– Trẻ bú có hiệu quả  là mút chậm, sâu, thỉnh thoảng dừng lại để nuốt sữa.

2.2. Cho trẻ bú thường xuyên cả ngày lẫn đêm, tránh ứ đọng sữa

– Động tác mút bú của trẻ kích thích bài tiết Prolactin, có tác dụng tăng tạo sữa.

– Prolactin được bài tiết nhiều vào ban đêm.

– Động tác mút bú của trẻ kích thích bài tiết oxytocin có tác dụng tống sữa ra xoang sữa.

– Tránh ứ đọng sữa để hạn chế yếu tố ức chế tạo sữa trong sữa mẹ.

2.3. Xây dựng cho bà mẹ niềm tin có đủ sữa nuôi con

2.4. Đảm bảo dinh dưỡng

–  Đảm bảo khối lượng và chất lượng thức ăn.

–  Uống đủ nước.

– Tránh ăn kiêng.

–  Hạn chế thuốc hoặc các chất kích thích ảnh hưởng đến sự bài tiết sữa.

2.5. Lao động hợp lý, sinh hoạt điều độ

–  Tạo điều kiện cho bà mẹ có đủ thời gian cho con bú.

–  Lao động phù hợp với sức khoẻ.

–  Ngủ nhiều.

2.6. Chăm sóc 2 bầu vú

–  Đầu vú cần được kiểm tra ngay từ khi mang thai, nếu tụt vào trong hoặc quá to hàng ngày cần vê và kéo núm vú.

–  Dùng lược chải vú hàng ngày để tránh tắc tia sữa.

  1. CÁCH CHO CON BÚ

3.1. Tư thế:

–  Người mẹ thoải mái, thư giãn, có thể nằm hoặc ngồi tuỳ ý. Nên nằm trong tuần đầu sau đẻ, những tuần sau nên ngồi cho con bú. Người mẹ bế trẻ tự tin, chăm chú nhìn và âu yếm vuốt ve con.

  – Cách mẹ bế trẻ đúng:

+ Đầu và thân trẻ tạo thành đường thẳng.

+ Bụng trẻ sát vào bụng mẹ.

+ Mặt trẻ quay vào vú mẹ.

+ Mẹ đỡ  vai và mông trẻ.

  – Cách mẹ nâng vú: Các ngón tay con tựa vào thành ngực phía dưới, ngón cái để phía trên vú, ngón tay trỏ nâng vú. Các ngón tay không nên đặt gần núm vú.

3.2. Cách giúp trẻ ngậm bắt vú : Người mẹ nên

+ Chạm núm vú vào môi trẻ.

+ Chờ cho đến khi miệng trẻ mở rộng.

+ Nhanh chóng đưa vú vào miệng trẻ.

3.3. Thời gian một bữa bú: khoảng 15 – 20 phút.

– Cho trẻ bú đến khi trẻ tự nhả vú.

– Cho trẻ bú từng bên một, hết bên này mới chuyển sang bên kia.

– Sau bữa bú nên vắt hết lượng sữa còn lại. 

– Cho trẻ bú sữa mẹ càng sớm càng tốt để tận dụng sữa non, thường khoảng 30 phút đến 1 giờ sau đẻ. Cho trẻ bú theo nhu cầu, bú cả ngày lẫn đêm.

3.4. Nên cai sữa muộn: trung bình khi trẻ được 18 – 24 tháng, nếu có điều kiện cho bú kéo dài hơn.

  1. ĂN BỔ SUNG (ĂN SAM, ĂN DẶM)

4.1. Định nghĩa: Ăn bổ sung là cho trẻ ăn thêm thức ăn khác bổ sung thêm cho sữa mẹ.

4.2. Thời gian cho trẻ ăn bổ sung

– Khi trẻ tròn 6 tháng tuổi: phải cho trẻ ăn bổ sung

– Trẻ từ  4 – 6 tháng tuổi:  cho ăn bổ sung nếu thấy:

+ Trẻ còn đói sau mỗi bữa bú mẹ

+ Hoặc trẻ tăng cân chậm hơn bình thường.

4.3. Thức ăn bổ sung: Ăn đủ thành phần theo ô vuông thức ăn, tỉ lệ phù hợp theo nhu cầu của trẻ (bài suy dinh dưỡng)

 

Thức ăn cơ bản:

Ngũ cốc, khoai củ…

Thức ăn cung cấp chất đạm:

Thịt, cá, trứng, tôm, cua, đậu…

Thức ăn có vitamin và muối khoáng:

Rau, quả…

Thức ăn giàu năng lượng:

Dầu, bơ, mỡ, lạc…

 

4.4. Nguyên tắc cho trẻ ăn

– Ăn đặc dần.

– Kiên trì tập cho trẻ ăn, dần dần làm quen với tất cả các loại thức ăn.

– Ăn đủ 4 thành phần theo ô vuông thức ăn.

– Ăn đúng và đủ theo lứa tuổi.

4.5. Cách pha chế một số món ăn

4.5.1. Bột loãng 5 %: một bát 200ml gồm có:

– Bột gạo:     10 g (2 thìa cà phê)              – Bột rau:      2 thìa cà phê

– Bột thịt:     2 thìa cà phê                         – Dầu ăn:      1 thìa cà phê

– Nước : 200ml

4.5.2. Bột sệt 7,5 %: Chỉ cần thay đổi lượng bột gạo là 3 thìa cà phê.

4.5.3. Bột đặc 10 %: Chỉ cần thay đổi lượng bột gạo là 4 thìa cà phê.

Ghi chú: Có thể thay 2 thìa cà phê bột thịt bằng 1 lòng đỏ trứng hoặc 1 thìa bột tôm (cua, cá) hoặc 2 thìa cà phê bột đậu, lạc, vừng.

4.6. Chế độ ăn của trẻ

Trẻ dưới 6 tháng tuổi Trẻ từ 6 đến 12 tháng
-Cho bú mẹ hoàn toàn bất cứ lúc nào trẻ muốn cả ngày lẫn đêm, ít nhất là 8 lần trong 1 ngày

-Đối với trẻ từ 4-6 tháng tuổi, chỉ cho ăn thêm nếu thấy trẻ:

+Vẫn còn đói sau khi bú mẹ

+Tăng cân chậm hơn bình thường

+Cho ăn thêm 1 đến 2 bữa bột đặc dần mỗi ngày với các loại thức ăn như cho trẻ từ 6-12 tháng.

 

-Cho trẻ bú mẹ bất cứ lúc nào trẻ muốn, cả ngày lẫn đêm.

-Cho trẻ ăn thức ăn bổ sung giàu chất dinh dưỡng với đầy đủ 4 nhóm thức ăn

-Bột đặc với thịt (gà, lợn hoặc bò) hoặc cá, tôm, cua, đậu phụ băm hoặc nghiền nhỏ hoặc trứng và rau xanh nghiền nhỏ, băm nhỏ như rau ngót, rau dền, bí ngô, su hào, cải bắp… và 1 thìa mỡ hoặc dầu ăn.

-Cho trẻ ăn ít nhất ¾ đến 1 bát các thức ăn này:

+ 3 bữa 1 ngày nếu còn bú mẹ

+ 5 bữa 1 ngày nếu không còn bú mẹ

-Cho trẻ ăn thêm các loại quả sẵn có tại địa phương như: dưa hấu, lê, cam quít, đu đủ, táo… và xen giữa các bữa chính

Trẻ từ 12 tháng đến 2 tuổi Trẻ từ 2 tuổi và lớn hơn
-Tiếp tục cho trẻ bú mẹ bất cứ lúc nào trẻ muốn

-Cho trẻ ăn phối hợp các loại thức ăn sau:

+Cháo đặc hoặc cơm nát hoặc bún hoặc phở mì với thịt (gà, lợn, bò) nấu nhừ hoặc băm nhỏ hoặc cá, tôm, trứng và rau xanh băm nhỏ như rau ngót, rau cải, rau muống, su hào, cà rốt… và 1 thìa mỡ hoặc dầu

+Cho trẻ ăn thức ăn này 5 bữa 1 ngày ít nhất 1 đến 1,5 bát 1 bữa

+Cho trẻ ăn thêm các loại quả sẵn có ở địa phương như dưa hấu, lê, hồng xiêm, cam, quít, táo, nho…

-Cho trẻ ăn 3 bữa cùng gia đình, ưu tiên cho trẻ thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng như thịt, cá, tôm trứng và các loại rau xanh.

-Xen giữa các bữa chính nên cho trẻ ăn thêm ít nhất 2 bữa phụ bằng các loại bánh, sữa

-Cho trẻ ăn thêm các loại quả sẵn có ở địa phương như soài, ổi, dưa hấu, hồng xiêm, cam, quít, táo, nho…

 

 

Phòng Khám Nhi Nha Trang Uy Tín

Gọi Ngay